Câu "răng số 6 nằm ở đâu" nghe đơn giản nhưng trả lời sai thì hậu quả không nhỏ: ghi sai một răng trên phiếu khám là sai luôn chỉ định, sai nhóm giá dịch vụ, và nếu là răng cần can thiệp thì sai cả vị trí thao tác.
Bài này tra theo hai chiều: cho một số thì ra vị trí, cho một vị trí thì ra số. Kèm những cái tên dân gian hay gây hiểu lẫn như "răng cấm" hay "răng hàm". Phần tổng quan nằm ở sơ đồ răng, cách đánh số chi tiết ở cách đánh số thứ tự răng.
Nguyên tắc đếm: từ giữa ra sau
Mỗi nửa hàm (một phần tư) có 8 răng vĩnh viễn, đánh số từ 1 tới 8 tính từ đường giữa ra phía sau. Đường giữa là chỗ tiếp giáp hai răng cửa trước nhất.
Vậy số thứ tự chính là khoảng cách tới đường giữa: số càng lớn thì răng càng nằm sâu về phía trong. Răng số 1 ở ngay giữa trước, răng số 8 trong cùng.
Trái phải luôn tính theo bệnh nhân. Người đứng khám nhìn thấy bên phải bệnh nhân ở phía tay trái mình, nên đây là chỗ nhầm nhiều nhất khi đọc miệng cho người khác ghi.
Bảng vị trí từng răng
Bảng dưới đọc được theo cả hai chiều. Cột FDI ghi đủ bốn mã của cùng một số thứ tự: hai mã hàm trên (1x phải, 2x trái) và hai mã hàm dưới (4x phải, 3x trái).
| Số | Tên gọi | Vị trí | FDI (trên phải / trên trái) | FDI (dưới phải / dưới trái) |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Răng cửa giữa | Ngay giữa, phía trước nhất | 11 / 21 | 41 / 31 |
| 2 | Răng cửa bên | Kế bên răng cửa giữa | 12 / 22 | 42 / 32 |
| 3 | Răng nanh | Ở góc chuyển giữa nhóm trước và nhóm sau | 13 / 23 | 43 / 33 |
| 4 | Răng cối nhỏ thứ nhất | Ngay sau răng nanh | 14 / 24 | 44 / 34 |
| 5 | Răng cối nhỏ thứ hai | Sau răng số 4 | 15 / 25 | 45 / 35 |
| 6 | Răng cối lớn thứ nhất | Răng lớn đầu tiên của nhóm sau | 16 / 26 | 46 / 36 |
| 7 | Răng cối lớn thứ hai | Sau răng số 6 | 17 / 27 | 47 / 37 |
| 8 | Răng cối lớn thứ ba (răng khôn) | Trong cùng | 18 / 28 | 48 / 38 |
Bốn nhóm răng và việc của từng nhóm
| Nhóm | Số | Số lượng | Việc chính |
|---|---|---|---|
| Răng cửa | 1, 2 | 8 chiếc | Cắt thức ăn. Quyết định phần lớn thẩm mỹ khi nói và cười |
| Răng nanh | 3 | 4 chiếc | Xé thức ăn. Chân dài nhất, giữ vai trò định hướng khi hai hàm trượt lên nhau |
| Răng cối nhỏ | 4, 5 | 8 chiếc | Nghiền sơ bộ. Hay là răng được chọn nhổ trong một số ca chỉnh nha |
| Răng cối lớn | 6, 7, 8 | 12 chiếc nếu đủ răng khôn | Nghiền chính. Chịu phần lớn lực nhai |
Những cái tên dân gian hay gây hiểu lẫn
Đây là nguồn sai thường xuyên khi bệnh nhân mô tả bằng tên dân gian và người ghi chuyển sang mã răng.
- "Răng cấm" thường được dùng để chỉ răng số 6, nhưng không phải ai cũng hiểu như vậy: có người gọi cả nhóm răng cối lớn là răng cấm. Nghe tên này thì nên xác nhận lại bằng cách chỉ vào răng, đừng suy ra mã.
- "Răng hàm" là cách gọi chung cho nhóm răng phía sau, có thể là răng số 4 tới 8. Một mình nó không xác định được răng nào.
- "Răng khôn" là răng số 8. Cái tên này ít gây lẫn, nhưng hay bị dùng cho cả răng số 7 khi răng số 8 chưa mọc.
- "Răng sáu bảy" khi bác sĩ muốn nói hai chiếc răng số 6 và số 7 rất dễ bị ghi dồn thành mã 67, mà 67 không phải mã răng có thật.
Câu hỏi thường gặp về vị trí răng
Răng số 4 và số 5 nằm ở đâu?
Hai răng cối nhỏ, nằm ngay sau răng nanh. Mã FDI: 14, 15, 24, 25 ở hàm trên và 44, 45, 34, 35 ở hàm dưới. Chúng thay cho hai răng cối sữa, nên ở trẻ đang đổi răng thì chỗ đó có thể vẫn là răng sữa (mã 54, 55, 64, 65, 74, 75, 84, 85).
Răng số 6 nằm ở đâu?
Răng lớn đầu tiên của nhóm sau, tính từ giữa ra là chiếc thứ sáu. Mã FDI: 16, 26, 36, 46. Hai điểm đáng nhớ về nó: nó mọc sớm nhất trong nhóm vĩnh viễn (khoảng 6 tuổi) và nó không thay. Vì mọc sớm trong lúc trẻ chưa tự vệ sinh tốt, đây là răng hay gặp vấn đề nhất.
Răng số 7 nằm ở đâu?
Răng cối lớn thứ hai, ngay sau răng số 6. Mã FDI: 17, 27, 37, 47. Mọc khoảng 11 tới 13 tuổi.
Răng số 8 nằm ở đâu?
Răng khôn, trong cùng mỗi phần tư. Mã FDI: 18, 28, 38, 48. Khác mọi răng còn lại ở chỗ không chắc có: nhiều người không có đủ bốn chiếc, và có người không mọc chiếc nào. Nên khi ghi sơ đồ răng, ô số 8 trống không đồng nghĩa với mất răng.
Vị trí răng hàm trên và hàm dưới có đối xứng nhau không?
Thứ tự đếm thì giống nhau, nhưng giải phẫu thì không. Khác biệt đáng để ý nhất là số chân răng của nhóm cối lớn: răng 16, 17, 26, 27 ở hàm trên thường có 3 chân, còn 36, 37, 46, 47 ở hàm dưới thường có 2 chân. Khác biệt này quyết định độ phức tạp khi điều trị tuỷ, nên nhiều phòng khám tách giá dịch vụ theo đúng nó.
Vì sao vị trí răng lại là chuyện của cả phòng khám
Vị trí răng không dừng ở kiến thức. Nó là khoá nối ba thứ trong hồ sơ: tình trạng ghi lúc khám, chỉ định trong kế hoạch điều trị, và dòng tiền trên phiếu thu. Cả ba đều gắn vào một mã răng.
Khi ghi tay, không có gì ngăn người nhập viết ra một mã không tồn tại, hoặc ghi lệch phần tư. Lỗi đó im lặng tới lúc đối chiếu hoá đơn hoặc tới lúc bệnh nhân hỏi vì sao tính tiền răng này.
Khi chọn trực tiếp trên sơ đồ răng của phần mềm, bác sĩ bấm vào đúng chiếc răng đang nhìn nên không còn khoảng cách giữa răng thật và con số được ghi. Đó là cách SimlyDent làm phần sơ đồ răng, và mã răng đó đi theo dòng điều trị tới phiếu thu mà không ai phải gõ lại.
Đọc tiếp: sơ đồ răng vĩnh viễn với 32 răng, sơ đồ răng sữa với 20 răng, hoặc phiếu điều trị răng để xem mã răng đi tiếp vào đâu.
Ghi được mã răng rồi thì bước tiếp theo là ghi tình trạng của chính răng đó: ký hiệu sơ đồ răng và cách ghi tình trạng từng răng.