Cách đánh số thứ tự răng: FDI, Palmer và Universal

Ba hệ đánh số răng, cách đọc mã răng hai chữ số, và bảng quy đổi đủ 32 răng vĩnh viễn cùng 20 răng sữa giữa FDI và Universal.

Cùng một chiếc răng có thể mang ba con số khác nhau, tuỳ người ghi dùng hệ nào. Răng cối lớn thứ nhất hàm dưới bên phải là 46 theo FDI nhưng là 30 theo Universal. Hai con số không liên quan gì tới nhau, nên nhận hồ sơ từ nơi khác mà không biết họ dùng hệ nào là một nguồn sai thật.

Bài này nói đủ ba hệ, cách đọc mã răng thành lời, và bảng quy đổi đủ 32 răng vĩnh viễn cùng 20 răng sữa. Phần tổng quan về sơ đồ răng nằm ở bài sơ đồ răng: cách đọc ký hiệu và vị trí từng răng.

Hệ FDI hai chữ số, hệ dễ gặp nhất ở Việt Nam

FDI (còn gọi theo tiêu chuẩn ISO 3950) ghi mỗi răng bằng hai chữ số. Chữ số thứ nhất là phần tư, chữ số thứ hai là răng thứ mấy tính từ đường giữa ra sau.

Phần tư (theo bệnh nhân)Răng vĩnh viễnRăng sữa
Hàm trên, bên phải11 đến 1851 đến 55
Hàm trên, bên trái21 đến 2861 đến 65
Hàm dưới, bên trái31 đến 3871 đến 75
Hàm dưới, bên phải41 đến 4881 đến 85

Trái phải luôn là của bệnh nhân, không phải của người đứng khám. Thứ tự 1, 2, 3, 4 chạy theo chiều kim đồng hồ khi nhìn vào mặt bệnh nhân, và răng sữa dùng tiếp 5, 6, 7, 8 theo đúng vòng đó.

Hai suy luận lấy được miễn phí từ chính mã răng, và cả hai đều dùng được khi tra bảng giá dịch vụ:

  • Chữ số đầu từ 5 tới 8 thì đó là răng sữa.
  • Chữ số thứ hai bằng 8 thì đó là răng khôn.

Cách đọc mã răng thành lời

Đọc tách từng chữ số: răng 46 đọc "răng bốn sáu", răng 18 đọc "răng một tám". Không đọc "răng bốn mươi sáu".

Hai lý do, lý do thứ hai mới là lý do thật:

  • Đọc gộp làm mất ranh giới giữa hai chữ số, tức mất thông tin phần tư.
  • Con số đọc gộp có thể là một răng thật trong hệ khác. "Ba mươi" nghe ra số 30, mà 30 trong hệ Universal chính là răng 46 của FDI. Hai người, hai hệ, cùng một từ, hai chiếc răng.

Một mã răng FDI hợp lệ luôn có chữ số thứ hai từ 1 tới 8 (răng sữa: 1 tới 5). Nên 67, 56, 76, 86 là những mã không tồn tại. Chúng hay sinh ra khi bác sĩ nói "răng sáu bảy" để chỉ hai chiếc răng rồi người ghi dồn thành một mã.

Hệ Universal, 1 tới 32

Hệ của Mỹ, đánh số chạy một vòng liên tục từ 1 tới 32, không chia phần tư. Bắt đầu từ răng khôn hàm trên bên phải bệnh nhân (số 1), chạy hết hàm trên sang bên trái (số 16), xuống răng khôn hàm dưới bên trái (số 17), rồi chạy hết hàm dưới về bên phải (số 32). Răng sữa dùng chữ cái A tới T theo cùng vòng đó.

Hệ này gặp trong tài liệu, phần mềm và phim chụp có nguồn từ Mỹ. Điểm yếu của nó: con số không tự nói lên vị trí, phải tra bảng hoặc nhớ.

Hệ Palmer

Palmer ghi răng bằng số 1 tới 8 (răng sữa: chữ A tới E) kèm một ký hiệu góc vuông chỉ phần tư. Góc vuông đó mô phỏng chính hai đường chia miệng: cạnh dọc là đường giữa, cạnh ngang là mặt phẳng giữa hai hàm, và con số nằm trong góc tương ứng với phần tư của nó.

Nó trực quan khi viết tay trên giấy, nhưng có một nhược điểm quyết định: ký hiệu góc không gõ được bằng bàn phím và không lưu được gọn trong cơ sở dữ liệu. Đó là lý do khi hồ sơ chuyển sang điện tử thì FDI thắng, và cũng là lý do bài này không vẽ lại các ký hiệu đó: chúng hiển thị không đáng tin trên nhiều máy. Gặp Palmer trong tài liệu cũ thì cách an toàn là đọc số rồi xác định phần tư theo hướng của góc, sau đó quy về FDI.

Bảng quy đổi răng vĩnh viễn: FDI và Universal

Hàm trên

RăngBênFDIUniversal
Cối lớn thứ ba (răng khôn)phải181
Cối lớn thứ haiphải172
Cối lớn thứ nhấtphải163
Cối nhỏ thứ haiphải154
Cối nhỏ thứ nhấtphải145
Răng nanhphải136
Răng cửa bênphải127
Răng cửa giữaphải118
Răng cửa giữatrái219
Răng cửa bêntrái2210
Răng nanhtrái2311
Cối nhỏ thứ nhấttrái2412
Cối nhỏ thứ haitrái2513
Cối lớn thứ nhấttrái2614
Cối lớn thứ haitrái2715
Cối lớn thứ ba (răng khôn)trái2816

Hàm dưới

RăngBênFDIUniversal
Cối lớn thứ ba (răng khôn)trái3817
Cối lớn thứ haitrái3718
Cối lớn thứ nhấttrái3619
Cối nhỏ thứ haitrái3520
Cối nhỏ thứ nhấttrái3421
Răng nanhtrái3322
Răng cửa bêntrái3223
Răng cửa giữatrái3124
Răng cửa giữaphải4125
Răng cửa bênphải4226
Răng nanhphải4327
Cối nhỏ thứ nhấtphải4428
Cối nhỏ thứ haiphải4529
Cối lớn thứ nhấtphải4630
Cối lớn thứ haiphải4731
Cối lớn thứ ba (răng khôn)phải4832

Bảng quy đổi răng sữa: FDI và Universal

Răng sữaPhần tưFDIUniversal
Cối sữa thứ haitrên phải55A
Cối sữa thứ nhấttrên phải54B
Răng nanh sữatrên phải53C
Cửa bên sữatrên phải52D
Cửa giữa sữatrên phải51E
Cửa giữa sữatrên trái61F
Cửa bên sữatrên trái62G
Răng nanh sữatrên trái63H
Cối sữa thứ nhấttrên trái64I
Cối sữa thứ haitrên trái65J
Cối sữa thứ haidưới trái75K
Cối sữa thứ nhấtdưới trái74L
Răng nanh sữadưới trái73M
Cửa bên sữadưới trái72N
Cửa giữa sữadưới trái71O
Cửa giữa sữadưới phải81P
Cửa bên sữadưới phải82Q
Răng nanh sữadưới phải83R
Cối sữa thứ nhấtdưới phải84S
Cối sữa thứ haidưới phải85T

Chọn hệ nào cho phòng khám

Không có quy định buộc phòng khám dùng một hệ cụ thể. Ba điều nên chốt, và chốt một lần cho cả phòng khám:

  • Một hệ duy nhất trong nội bộ. Hai hệ song song trong cùng một hồ sơ là nguồn sai không cần thiết. Ở Việt Nam, chọn FDI thì đỡ phải quy đổi nhất.
  • Ghi rõ hệ khi gửi hồ sơ ra ngoài. Gửi sang labo, sang phòng khám khác hay cho bệnh nhân mang đi, một dòng "theo FDI" tránh được cả một lượt gọi lại xác nhận.
  • Để phần mềm giữ quy ước, đừng để nó phụ thuộc người gõ. Khi bác sĩ bấm vào chính chiếc răng trên sơ đồ, hệ nào được lưu là chuyện của phần mềm, không phải chuyện người nhập phải nhớ.

Cách SimlyDent làm phần này: sơ đồ răng hiển thị theo mã FDI, bác sĩ chọn răng trên hình rồi ghi chỉ định ngay tại răng đó, và mã răng đi theo dòng điều trị cho tới phiếu thu nên không ai phải gõ lại lần thứ hai.

Đọc tiếp: vị trí các răng trong hàm nếu cần tra nhanh răng số mấy nằm ở đâu, hoặc sơ đồ răng để xem toàn cảnh.

Hai bảng quy đổi ở trên có bài riêng đi sâu từng loại răng: sơ đồ răng vĩnh viễn với 32 răng, tên gọi và lịch mọc và sơ đồ răng sữa với 20 răng, lịch mọc và lịch thay.

Câu hỏi thường gặp về cách đánh số răng

Răng 46 là răng nào?

Răng cối lớn thứ nhất ở hàm dưới, bên phải bệnh nhân. Đọc là "răng bốn sáu": chữ số 4 chỉ phần tư hàm dưới phải, chữ số 6 chỉ răng thứ sáu tính từ đường giữa ra sau. Trong hệ Universal nó mang số 30.

Vì sao phải đọc tách từng chữ số?

Đọc gộp làm mất ranh giới hai chữ số, tức mất thông tin phần tư. Nguy hiểm hơn, con số đọc gộp có thể là một chiếc răng thật trong hệ khác: "ba mươi" nghe ra số 30, mà 30 của hệ Universal chính là răng 46 của FDI.

Mã răng nào chắc chắn không tồn tại?

Mọi mã có chữ số thứ hai ngoài khoảng 1 tới 8, và với răng sữa là ngoài khoảng 1 tới 5. Nên 67, 56, 76, 86 đều là mã không có thật. Chúng hay sinh ra khi bác sĩ đọc "răng sáu bảy" để chỉ hai chiếc răng rồi người ghi dồn thành một mã.

Nhận hồ sơ từ nơi khác thì làm sao biết họ dùng hệ nào?

Nhìn dải số. Chỉ có số từ 1 tới 32 hoặc chữ cái A tới T thì đó là Universal. Có số hai chữ số bắt đầu bằng 1 tới 8 thì đó là FDI. Có ký hiệu góc vuông kèm số một chữ số thì đó là Palmer. Không chắc thì hỏi lại, đừng quy đổi theo phỏng đoán.

Ghi được mã răng rồi thì bước tiếp theo là ghi tình trạng của chính răng đó: ký hiệu sơ đồ răng và cách ghi tình trạng từng răng.

Demo miễn phí · 30 phút với chuyên gia

Đặt demo 30 phút với chuyên gia SimlyDent

Demo 30 phút 1-1 hoàn toàn miễn phí - không áp lực, không chào hàng. Xem SimlyDent vận hành thực tế trên dữ liệu phòng khám của bạn.

Bệnh nhân không giới hạn Tương thích Thông tư 13/2025 Chuyên gia gọi trong 2 giờ
Đặt demo 30 phút

Demo miễn phí · Chuyên gia gọi trong 2 giờ · Không cần chuyển khoản trước

📞 Gọi ngay Dùng thử miễn phí →
Gọi 0972 090 930